Phạm môn:
Ông Đạo Nhơn Nguyễn Đức Hòa, bút hiệu Khiết Dân, một môn đệ của Phạm môn có viết tập Hồi Ký "PHẠM MÔN SỬ LƯỢC HỒI KÝ", chúng tôi xin chép lại để cống hiến quí bạn đạo, để có một hiểu biết tổng quát về Phạm môn và cũng để làm tài liệu cho Ban Đạo Sử.
PHẠM MÔN SỬ LƯỢC HỒI KÝ
LỜI NÓI ĐẦU
LƯỢC SỬ PHẠM MÔN Hồi Ký là cố moi óc hồi nhớ lại những việc đã qua, từ buổi Phạm môn mới phôi thai cho đến lúc biến thể thành Cơ Quan Phước Thiện và tiến đến thành hình Hội Thánh Phước Thiện trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để ghi lại những gì chính mình mắt thấy tai nghe hoặc những người trực diện trong cuộc, tường thuật lại để anh em cùng hiểu biết với nhau trong tình chân thành, đồng thời cùng chí hướng.
Phạm môn là con đường thứ ba hay là cửa Tu chơn trong nền Đại Đạo. Mỗi mỗi việc chi đều do khẩu thuyết mật truyền của Đức Hộ Pháp chớ không có giấy tờ văn kiện chi hết. Vì thế nên muốn tìm lại một chứng minh cụ thể nào về Phạm môn đều không thể có.
Nhưng thiết nghĩ, Phạm môn cũng là một cơ quan trọng yếu trong nền Đại Đạo nên không thể thiếu trong Bộ Đạo Sử sau nầy. Nếu những người đương thời không có ghi lại thì các sử gia hậu thế biết căn cứ vào đâu mà sưu khảo, hầu hoàn thành Bộ Đạo Sử được đủ đầy.
Riêng về kẻ viết bản PHẠM MÔN LƯỢC SỬ nầy không bao giờ dám có cao vọng sẽ chen tựa trong bậc ngưỡng cửa sử gia nền Đại Đạo, nhưng trót lỡ nhận sự phú thác của đàn anh nên không thể vì lẽ gì từ chối được.
Vẫn biết rằng: Tôi là kẻ thấy cạn hiểu gần thì dám đâu tự xứng với việc quá sức mình, nhưng nhìn kỹ lại các bậc đàn anh trong cửa Phạm môn, đã kẻ trước người sau lần lần qui vị gần như sắp hết, chỉ còn lại năm bảy anh đều là đã lưng còm tóc bạc, tai điếc mắt lờ, nên dầu cho tôi có ngập ngừng e ngại đến đâu, buộc lòng cũng phải cố gượng gắng làm việc của đàn anh giao phó, nhưng chắc rằng không tránh khỏi những điều thiếu sót và cũng hẳn có việc lầm lỗi về luật hành văn không phải ít.
Kinh xin quí vị cao minh rộng tình thông cảm lượng thứ cho và bổ túc thêm những điều thiếu sót.
Nay kính.
Tòa Thánh , ngày mùng 1 tháng 9 Canh Thân.
(dl 9-10-1980)
Đạo Nhơn NGUYỄN ĐỨC HÒA, bút hiệu Khiết Dân.
LƯỢC SỬ PHẠM MÔN hồi ký
Phạm môn phôi thai từ năm Kỷ Tỵ (1929). Khởi thủy do Đức Hộ Pháp sang phần đất tại xóm Trường Đua thuộc xã Hiệp Ninh, quận Châu Thành tỉnh Tây Ninh, tạo một ngôi nhà, ngôi nhà đầu tiên nầy do Đức Hộ Pháp đặt cho ông Lễ Sanh Thượng Nguơn Thanh lãnh khoán, khi làm xong, kéo đem tới dựng lên (nhà cột cây lợp tranh).
Trong lúc đang kiến tạo ngôi nhà nầy, có một số người đạo tâm tự đến xin làm giúp cho Đức Hộ Pháp. Mục đích của những người nầy là muốn được gần gũi Đức Hộ Pháp để học đạo, và cứ như thế, số người đến xin làm mỗi ngày thêm đông.
Đến năm Canh Ngọ (1930), Đức Hộ Pháp mới nói với những người nầy rằng: Chỗ nầy không phải chỗ làm công quả, nếu ai muốn làm công quả thì về trong Tòa Thánh mà làm. Còn như em nào muốn theo Qua thì phải làm Tờ Hiến Thân trọn đời vào Phạm môn và phải có cha mẹ với vợ con bằng lòng ký tên cho hiến thân mới đặng, đồng thời Tờ Hiến Thân phải có Đầu Họ Đạo vi chứng.
Những anh em nầy họp nhau bàn tính, kết quả anh em đồng ý làm Tờ Hiến Thân. Khi làm Tờ Hiến Thân xong, đệ lên Đức Hộ Pháp. Ngài xem xong rồi, đệ luôn qua cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt.
Từ ngày anh em làm Tờ Hiến Thân rồi, Đức thầy buộc làm công mỗi tháng phải đủ 27 ngày, nghỉ 3 ngày là mùng 10, 20 và 30, nếu tháng thiếu nghỉ ngày 29.
Đến đây nhận thấy số người khá đông, phần ăn uống có mòi thiếu thốn. Mấy người lớn tuổi có phần hiểu biết hơn, mới phân ra một số đi cưa cây làm cửa để trang trí ngôi nhà mới cất, còn một số lo đi kiếm ruộng đặng làm. Khi bàn tính xong thì trình lên cho Đức thầy hay, được Đức thầy chấp thuận và Đức thầy hỏi mướn sở ruộng của Bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh, tọa lạc tại Bến Sỏi, Tây Ninh. Vụ làm ruộng do ông Võ Văn Lèo làm chủ sở và nhờ anh em ở xã Ninh Điền và Trà Xiêm giúp trâu cày ruộng và lúa giống.
Khi ngôi nhà được trang trí kín đáo, xây hai cây cột trụ cửa ngõ xong, Đức thầy mới dạy làm một tấm bảng đề hai chữ PHẠM NGHIỆP và đôi liễn như vầy:
■ PHẠM NGHIỆP thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng,
■ MÔN quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.
Đồng thời Đức thầy dạy anh em về Tòa Thánh tạo sở KHÁCH ĐÌNH, kế lộ Phước Đức Cù, sau hậu nhà sở Khách Đình sát với rừng cấm (hướng Nam Tòa Thánh). Nhà sở nầy do ông Nguyễn Văn Lư làm Chủ sở.
Trong lúc tạo cơ sở nầy, cơm gạo rất thiếu thốn, mỗi bữa ăn đều là khoai mì với lá đậu rồng, lá cây búng chấm nước muối. Lúc đó ông Phạm Văn Út là người nhỏ tuổi hơn hết (lối 20 tuổi) tới bữa ăn vô thấy toàn là khoai mì với nước muối, liền khóc ròng, vì kéo dài đến cả tháng mà chưa được bữa cơm nào.
Lạ một điều là trong số anh em nầy, khi có ai về thăm nhà, cha mẹ hoặc vợ con hỏi thăm lên trên chùa làm công quả là làm việc gì? Trả lời: Làm nhà, học kinh, học đạo và trồng tỉa, chớ không bao giờ cho biết sự khổ hạnh đói khát, vì sợ cha mẹ, vợ con buồn, rồi không cho đi nữa. Mãi đến sau hỏi lại mới biết mỗi người trả lời với gia đình đều giống như nhau.
Lúc làm cây tạo dựng nhà sở Khách Đình, gần đến ngày dựng mà còn thiếu cây đòn dông, anh em mới bạo gan vô rừng cấm đốn cây dầu nước, rồi mượn mấy anh em người Miên phụ khiêng đem về cưa ra đặng làm cây đòn dông. Khi vừa cưa xong, chưa kịp dọn dẹp, kế có ông Đội Ngự là Đội Kiểm Lâm vô tới thấy cây mới cưa, nên đi vòng theo mé rừng, thấy dấu đường khiêng cây về, liền trở vô bắt và lập biên bản. Anh em liền đến trình với Đức thầy hay. Đức thầy nói: Nó muốn kiếm tiền đó, mấy em về năn nỉ và cho tiền nó là xong.
Anh em về năn nỉ và cho nó 5 đồng bạc. Thầy Đội Ngự nói: Thôi tôi vui lòng tha cho, nhưng từ nay đừng ăn cắp cây của nhà nước nữa. Nói rồi xé hủy biên bản ra về.
Đến cuối năm Canh Ngọ (1930), Đức thầy cho anh em xuống mở sở Phạm môn tại Tâm Lạch thuộc xã Trường Hòa (Tây Ninh) do ông Lê Văn Lưu làm Chủ sở sắp đặt việc nhà cửa và canh tác ruộng rẫy.
Ông Phạm Văn Màng nhiệm vụ coi anh em người Miên làm hằng ngày, vì sở nầy có lối 40 người Miên kể cả nam nữ, còn người Việt lối 20 người.
Ông Lại Văn Sắc lo về lương thực và ngoại giao. Khi mới đến tạm ở nơi nhà của ông Út Giáp (Phạm Văn Giáp) vì nhà của ông Giáp gần chỗ tạo nhà sở, phần lớn trong nội vụ kiến tạo nhà sở nầy đều nhờ sự giúp đỡ của anh em ông Giáp. Nguyên bởi ông Phạm Văn Giáp lúc nầy đương giúp việc cho Đức thầy tại Hộ Pháp Đường.
Khi khởi sự khai mở ruộng rẫy, lúc đem trâu ra máng cày vô rồi, chính Đức thầy cầm cày, anh em dắt trâu, cày đủ 3 vòng, Đức thầy trao lại cho anh em ở sở tiếp tục cày.
Cũng trong năm nầy, Đức thầy dạy anh em Phạm môn học tập Thập Điều Giới Răn, phải học cho thuộc làu, đặng khi thầy biểu đọc lại là phải đọc cho thuộc.
Thập Điều Giới Răn như dưới đây:
-
Phải tuân y Luật pháp Chơn truyền của Chí Tôn.
-
Phải trọn hiếu với tông đường phụ mẫu, trọn nghĩa vợ chồng, vẹn phận làm cha.
-
Phải trọn giữ trai giới.
-
Phải xa lánh các đảng phái.
-
Phải thật hành phước thiện, nuôi người già, dưỡng trẻ nhỏ.
-
Không đặng thâu của chúng sanh.
-
Coi anh em đồng đạo như ruột thịt.
-
Không được bội sư phản bạn.
-
Phải ở như các Thánh Hiền, đừng phạm tội vong công bội đức.
-
Phải thương yêu loài người và loài vật, kỉnh trọng mạng sanh vừa theo tánh chất của Chí Tôn là chúa sự sống.
Đến năm Tân Mùi (1931), Đức thầy dạy ông Trịnh Phong Cương ra tạo sở Giang Tân, kế mé sông Vàm Cỏ Đông, thuộc xã Trường Hòa, sát ranh với xã Long Thành.
Sở Nam Công nghệ gần ngã ba đi Suối đá và đi Chà là, tại nách đường đi vô Thái Bình Thánh Địa (Nghĩa Địa), do ông Võ Văn Đợi tự Đại làm Chủ sở.
Sở Nữ Công nghệ ở gần ngã tư Ao hồ, kế bên cửa số 7 Ngoại ô Thánh địa, do ông Đinh Văn Tiết làm Chủ sở.
Sở Dưỡng Lão Đường cũng gần ngã tư Ao hồ. Nền nhà sở Dưỡng Lão là Điện Thờ Phật Mẫu Đệ Tam ngày nay (Canh Thân 1980) do ông Lê Văn Tri làm Chủ sở.
Đến cuối năm Tân Mùi (1931), Đức thầy cho hay đến ngày mồng 3 tháng giêng Nhâm Thân (1932) sẽ làm lễ Hồng Thệ (Đào Viên Pháp) tại Sở Trường Hòa.
Trước khi hồi ký lại nội vụ Hồng Thệ, tôi xin ghi lại 23 vị Minh Thiện Đàn thuộc Thánh Thất Khổ Hiền Trang xã Phú Mỹ quận Châu Thành tỉnh Mỹ Tho, đã Hồng Thệ từ ngày 15-2-Canh Ngọ (1930) tại Thánh Thất Khổ Hiền Trang.
Chiếu theo niên lịch thì 23 vị Minh Thiện Đàn hồng thệ trước, nên xin ghi trước vào đây, hơn nữa Minh Thiện Đàn cũng là Phạm môn, cũng như Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung và Vạn Pháp Cung, tựu chung cũng là Phạm môn.
Danh sách 23 vị Minh Thiện Đàn hồng thệ ngày 15-2-Canh Ngọ, kể tên dưới đây:
| 1. |
Phan Văn Minh |
Xã Phú Mỹ, |
tỉnh Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ. |
| 2. |
Lê Văn Trung |
Phú Mỹ, |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ. |
| 3. |
Huỳnh Văn Phuông |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 4. |
Đinh Công Trứ |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 5. |
Trần Văn Đăng |
Long Hòa, |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 6. |
Trần Văn Lợi |
Lương H.Lạc |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 7. |
Nguyễn Văn Tấn |
Lương H.Lạc |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 8. |
Lê Văn An |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 9. |
Trần Thạnh Mậu |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 10. |
Nguyễn Văn Tươi |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 11. |
Lê Cảnh Phước |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 12. |
Hồ Văn Huyện |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 13. |
Lê Văn Ninh |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 14. |
Nguyễn Văn Soi |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 15. |
Dương Văn Hiệp |
Hưng Th.Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 16. |
Nguyễn Văn Hậu |
Lương Hòa |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 17. |
Nguyễn Văn Vàng |
Đạo Ngạn |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 18. |
Phan Văn Huởn |
An Hữu |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 19. |
Hồ Văn Cửu |
Tân H.Thành |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 20. |
Đỗ Văn Phò |
Tân H.Thành |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 21. |
Ung Văn Lưng |
Tân H.Thành |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 22. |
Nguyễn Văn Sủng |
Phú Mỹ |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
| 23. |
Lê Văn Dương |
Tân H.Thành |
Mỹ Tho. |
15-2-C.Ngọ |
Đúng ngày mùng 3 tháng giêng Nhâm Thân (1932), cả anh em Phạm môn nam nữ và luôn cả cha mẹ, vợ con của anh em đều tựu đến Sở Trường Hòa rất đông, phỏng lối ngàn người.
Đúng 7 giờ tối, Đức thầy dạy lấy một cái thau rửa thật sạch, đem để trước Thiên Bàn. Đức thầy nói: Đáng lẽ mỗi người có tên hồng thệ hôm nay tự mình cắt tay lấy máu đựng chung trong thau nầy rồi mỗi người uống một hớp, nhưng mấy em là người đạo, mỗi người đều giữ trường chay, không thể làm như vậy được, nên phải dùng rượu chát đỏ thay thế, đổ rượu vào thau nầy cho nhiều, vì mấy em đông lắm, lại thêm cha mẹ, vợ con của mấy em nữa.
Khi đổ rượu vào thau xong, Đức thầy làm lễ Chí Tôn và hành pháp vào thau rượu, rồi kêu từng người theo danh bộ đã chọn sẵn và cả cha mẹ, vợ con của người được hồng thệ vô.
Người chánh danh Phạm môn được hồng thệ quì trước Thiên Bàn nguyện như vầy:
" Tôi là: . . . . . . . . . . . . .Tuổi . . . . .
Từ nay tôi coi anh em Phạm môn như ruột thịt, sanh tử bất ly, thoảng có điều chi hoạn nạn thì tôi liều mình với anh em. Nếu ngày sau tôi thất nguyện, quyền thiêng liêng hành pháp tận đọa tam đồ bất năng thoát tục và thầy tôi không nhìn nhận tôi nữa."
Lạy 3 lạy, đứng dậy, rồi thọc ngón tay giữa của bàn tay mặt vô rượu chát đỏ nói rằng: "Đây là huyết thệ của tôi." Rồi uống mỗi người một hớp, cha mẹ, vợ con của người chánh danh cũng uống mỗi người một hớp như vậy. Kế người sau đó cũng làm y như vậy, tiếp theo mãi cho đến hết.
Những người hồng thệ kỳ mồng 3 tháng giêng Nhâm Thân (dl 7-2-1932), Đức thầy chọn được 67 vị. Ông Lê Văn Tri xin thêm 5 vị nữa ở Gò Chai Long Vĩnh, Đức thầy cho nhưng Đức thầy nói: "Mấy người em xin thêm đó, nếu sau nầy có nên được, em vanh tay Qua đi."
Thật vậy, khoảng lối năm Nhâm Tý (1972), chính tác giả hồi ký Lược Sử nầy có dịp tọa đàm với ông Đỗ Văn Viện, Trưởng Tộc Phạm môn và đôi ba anh em nữa, nhắc lại lời của Đức thầy nói hồi lễ Hồng thệ của Phạm môn tại xã Trường Hòa, và kiểm điểm lại thì đúng như lời Đức thầy buổi nọ.
Cộng chung 67 vị của Đức thầy chọn và 5 vị do ông Lê Văn Tri xin thêm là 72 vị, danh sách như dưới đây:
| TT. |
Họ và Tên |
Xã |
Quận. |
Tỉnh |
| 1. |
Phạm Văn Huấn |
Hiệp Thạnh |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 2. |
Lê Văn Tri |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 3. |
Nguyễn Văn Thế |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 4. |
Võ Văn Lẽo |
Thanh Phước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 5. |
Bùi Văn Trực
tự Nguyệt |
Bình Phú |
|
Long Xuyên |
| 6. |
Võ Văn Đợi
tự Đại |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Trảng Bàng |
| 7. |
Phạm Văn Tuấn |
Hiệp Thạnh |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 8. |
Lê Văn Lưu |
An Hòa |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 9. |
Trịnh Phong Cương |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 10. |
Đinh Văn Tiết |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 11. |
Lý Văn Lâm |
Mỹ Phong |
|
Mỹ Tho |
| 12. |
Trịnh Văn Phận |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 13. |
Đỗ Văn Viện |
PhướcThạnh |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 14. |
Phạm Công Đằng |
Thanh Phước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 15. |
Nguyễn Văn Sĩ
tự Đại |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 16. |
Lê Văn Gấm |
Thái Mỹ |
Hốc Môn |
Gia Định |
| 17. |
Nguyễn Văn Lư |
Bình Đăng |
|
Mỹ Tho |
| 18. |
Phạm Văn Út |
Thanh Phước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 19. |
Trần Văn Như |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 20. |
Nguyễn Văn Lịnh |
Long Hiệp |
Trung Quận |
Chợ Lớn |
| 21. |
Trần Văn Nhượng |
Long Cang |
Trung Quận |
Chợ Lớn |
| 22. |
Lại Văn Sắc |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 23. |
Võ Văn Chở |
Thanh Phước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 24. |
Nguyễn Văn Yên |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 25. |
Lê Văn Buội |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 26. |
Phạm Văn Màng |
Thanh Phước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 27. |
Võ Văn Thoàn |
Thanh Phước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 28. |
Lại Văn Ngà |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 29. |
Ngô Văn Hố |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 30. |
Nguyễn Văn Tiền
tự Dần |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 31. |
Bùi Văn Trang |
Bình Phú |
|
Long Xuyên |
| 32. |
Đinh Văn Giao |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 33. |
Đỗ Văn Thơ |
PhướcThạnh |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 34. |
Phạm Văn Hạt |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 35. |
Lê Văn Hoa |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 36. |
Nguyễn Văn Vọng |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 37. |
Nguyễn Văn Tiễn |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 38. |
Lương Văn Dậu |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 39. |
Lê Văn Bờ |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 40. |
Nguyễn Văn Thông |
CẩmGiang |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 41. |
Trần Văn Ấu |
CẩmGiang |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 42. |
Đặng Văn Thứ |
Long Cang |
Trung Quận |
Chợ Lớn |
| 43. |
Nguyễn Văn Thiết |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 44. |
Lê Văn Sửu |
PhướcThạnh |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 45. |
Phạm Văn Lễ |
PhướcThạnh |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 46. |
Hồ Văn Lung |
CẩmGiang |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 47. |
Phạm Văn Chì |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 48. |
Lê Văn Huấn |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 49. |
Nguyễn Văn Sang |
|
|
Châu Đốc |
| 50. |
Hồ Văn Tự |
Phước Vân |
Trung Quận |
Chợ Lớn |
| 51. |
Nguyễn Văn Hạp |
Thanh Hà |
|
Chợ Lớn |
| 52. |
Võ Văn Trọng |
Định Thành |
Bến Cát |
Thủ Dầu Một |
| 53. |
Đặng Văn Phụng |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 54. |
Đinh Văn Nghiêm |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 55. |
Hồ Văn Giăng |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 56. |
Trần Văn Bùng |
CẩmGiang |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 57. |
Đinh Văn Huỳnh |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 58. |
Lê Văn Biện |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 59. |
Ngô Văn Mười |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 60. |
Nguyễn Văn Bường |
Thạnh Đức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 61. |
Lê Văn Lâu |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 62. |
Nguyễn Văn Cho |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 63. |
Trịnh Vinh Quí |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 64. |
Nguyễn Văn Sen |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 65. |
Lê Văn Duyên |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 66. |
Phạm Văn Voi |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 67. |
Phạm Văn Dụng |
CẩmGiang |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 68. |
Nguyễn Văn Bo |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 69. |
Trần Văn Sanh |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 70. |
Tô Văn Bao
tự É |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 71. |
Lê Văn Ong |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
| 72. |
Võ Văn Hội |
Ninh Điền |
Châu Thành |
Tây Ninh |
Khi hành lễ Hồng Thệ (Đào Viên Pháp) xong, Đức thầy và cả anh em nghỉ đêm tại đó, đến sáng mùng 4 tháng giêng năm Nhâm Thân mới lần lượt ra về.
Liền trong tháng giêng Nhâm Thân (1932), ông Bùi Văn Trực xin với Đức thầy đi làm ruộng ở núi Sập tỉnh Long Xuyên để có lúa đem về cần dùng nơi Phạm môn, được Đức thầy chấp thuận, liền phân công, kẻ lo kêu gọi anh em đi làm ruộng và kiếm thêm trâu đem đi làm ruộng, người lo làm trạnh cày (trạnh cày bằng cây vì lúc đó chưa có trạnh cày bằng sắt), bắp cày, ách cày và nài ống, tức là các dụng cụ để đi cày làm ruộng.
Phần ông Đinh Văn Tiết lo làm trạnh cày, tổ chức hai ba người đi vô phía Trảng Dài ăn cắp cây rừng cấm, khoảng giữa chừng Tây Ninh vô Tòa Thánh, từ chỗ làm trạnh cày ra tới lộ đá phỏng chừng lối hơn ngàn thước.
Khi làm xong, mượn xe bò đặng kéo đem đến sở Giang Tân để ghe chở đi Long Xuyên. Vụ đi kéo trạnh cày đó, ông Đinh Văn Tiết và Nguyễn Văn Bàu cùng đi. Đợi quá 6 giờ tối ngày (quên) tháng giêng Nhâm Thân (1932), hai ông mới đánh chiếc xe bò đi đến chỗ, chất trạnh cày lên xe xong, quày trở về.
Khi còn cách lộ đá lối trăm thước, ông Tiết nói với ông Bàu: Anh kềm bò lại đây, để tôi ra lộ đá quan sát trước, đi đại ra gặp lính Kiểm lâm thì nguy lắm, anh lưu ý hễ thấy tôi bật lửa hộp quẹt sẽ đánh xe ra, bằng chưa thấy ánh lửa thì đừng ra bất tử.
Ông Bàu đợi khá lâu mới thấy ánh lửa chấp chóa thì rất mừng, liền đánh xe bò ra và đinh ninh rằng đã gặp dịp may rồi. Nào ngờ khi vừa lên tới lộ đá thì hai người lính Kiểm lâm chạy tới đón đầu bò lại, đồng thời hô lớn lên: Xe ăn cắp cây rừng cấm của nhà nước. Ông Tiết và ông Bàu hoảng hồn, liền chạy lại mở bò, còn hai người lính Kiểm lâm chụp dây bò giành lại, hai đàng dằng co xô đẩy với nhau khá lâu, lần lượt ông Tiết và ông Bàu mở được hai con bò khỏi xe, kế một hồi lâu nữa, thừa dịp hai người lính Kiểm lâm xô đẩy với ông Bàu, ông Tiết đánh hai con bò nhảy tuốt về Tòa Thánh, còn ông Bàu cố gắng giữ hai người lính ở lại không cho rượt theo ông Tiết, đến lúc nghe tiếng bò nhảy đã xa, mới xô hai người lính Kiểm lâm dang xa rồi phát chạy theo ông Tiết. Thế là cả hai người và hai con bò đều thoát khỏi, còn bỏ lại chiếc xe thùng và 24 trạnh cày bằng cây dừng. Chiếc xe kéo trạnh cày bị lính Kiểm lâm tịch thâu luôn, nên Phạm môn phải mua xe khác thường
cho chủ.
Kể từ đây, Đức thầy thường đến thăm anh em nơi các sở Phạm môn, đi bằng cách cỡi ngựa, vì thời nầy đa số đều là rừng rậm, chớ không có đường lưu thông rộng rãi như ngày nay, chỉ đi theo đường xe bò, nên dầu có xe đạp cũng khó đi lắm. Có khi Đức thầy đi một mình, có khi một hoặc hai người đi theo.
Có một lần độ chừng tháng 6 hay tháng 7 âm lịch Nhâm Thân, Đức thầy xuống Sở Trường Hòa ở lại ngủ đêm. Vì rừng rậm tranh sặt giáp vòng nên muỗi quá nhiều, khổ nỗi là anh em tại đây không ai có mùng, cả thảy đều ngủ bằng chiếc nóp. Còn Đức thầy không quen ngủ nóp, nên không ngủ được, bằng nằm ra ngoài thì muỗi cắn đập liền tay.Vì vậy anh em đốt đống un rồi luân phiên quạt khói mịt mù để tan bớt muỗi, nhưng cũng tạm đỡ phần nào chớ suốt đêm Đức thầy không ngủ được.
Cũng vì lẽ ấy nên ông Phạm Văn Giáp mới sắm riêng một ghế bố và mùng mền chiếu gối để tại nhà của ông dành để đặc biệt khi Đức thầy đến thì ăn và nghỉ tại nhà ông Giáp, vì nhà ông Giáp ở gần Sở Trường Hòa.
Cũng trong khoảng thời gian nầy, khi đến thăm các Sở, hễ gặp người bịnh thì Đức thầy kêu Chủ sở dặn phải tận tâm lo thuốc men cho người bịnh, không nên vì việc làm mà bỏ người bịnh. Vì lúc nầy, Sở nào cũng đều là đất rừng mới khai phá ra nên bị bịnh chói nước, nóng lạnh rất nhiều, hay nói cách khác là bịnh rét rừng, như tại Sở Phạm môn Trường Hòa kể từ tháng 10 đến tháng 4 âm lịch, hễ buổi mơi đi làm lối 20 người thì buổi chiều còn lối 7 hoặc 10 người là nhiều, còn những người kia đều bị làm cữ rét nằm trùm mền hết.
Mỗi lần Đức thầy đi thăm đều thấy như vậy, hơn nữa càng ngày số người bịnh lại càng đông hơn trước.
Nhận thấy không thể đành như vậy được, nên đến tháng giêng năm Quí Dậu (1933), Đức thầy mới kêu anh em sửa soạn ngôi nhà sau hậu Hộ Pháp Đường, tức là nền nhà Tịnh Tâm Hiên, chỗ Cô Phối Sư Hương Tranh ở ngày nay, lót ván sạp dài thành hai dãy dọc hai bên để cho người bịnh ở các sở Phạm môn về nằm trị bịnh (nam tả nữ hữu). Khi sắp sửa chỗ nơi xong, Đức thầy cho các vị Chủ sở hay, kể từ nay các sở Phạm môn hễ có người bịnh, dầu nam hay nữ đều đem hết về giao cho Đức thầy chăm sóc điều trị.
Phần trị bịnh chia ra hai khoa:
1. Đông y do ông Bùi Văn Hưng (ông Tư Hưng) làm Bảo Bịnh, điều trị bằng đông y.
2. Tây y do Đức thầy bổn thân chăm sóc chích thuốc và cho uống tây y.
Vì trong thời gian nầy (1933), những người hiện làm công quả tại Tòa Thánh và các sở Phạm môn, không người nào biết chích thuốc và điều trị bằng thuốc tây, chỉ có Sài Gòn mới có một tiệm bán thuốc tây mà thôi.
Về việc Đức thầy chích thuốc Tây trị bịnh cho anh em rất kết quả, vì đa số là bị bịnh chói nước, rét rừng nên chích thuốc ký nin (Quinine) rất công hiệu, nhưng rất tiếc là công việc trị bịnh đang tiến hành, kế bị nhóm người chi phái đối lập với Tòa Thánh Tây Ninh tố cáo với chánh quyền Pháp tại Tây Ninh, nên ông Trưởng Tâm (Xếp Mật vụ Pháp tại Tây Ninh) đi với 4 người lính Cảnh sát vô tại Hộ Pháp Đường khám xét lấy kim chích thuốc và cả dụng cụ chích thuốc, lập biên bản, lấy hết những món nầy đem về Tây Ninh, rồi đưa ra tòa về tội chích thuốc trị bịnh mà không có giấy chứng nhận của Bác sĩ. Nhưng cũng may, cách đó đôi ba ngày có thầy Hai Để là Y Tá Trưởng tại bịnh viện Tây Ninh vô thăm Đức thầy, sau khi nghe Đức thầy thuật lại vụ ông Trưởng Tâm bắt về vụ chích thuốc, thầy Hai Để nói: Ngài đừng lo chi hết, đến khi ra tòa Ngài nói những dụng cụ chích thuốc đó là của tôi, vì tôi vô chích thuốc mấy người bịnh rét rừng, bởi mỗi ngày tôi đều vô chích nên tôi
gởi đồ lại đó. Thế nào tòa cũng đình vụ xử lại để kỳ sau Tòa mời tôi. Khi tòa mời tôi thì tôi nhận những dụng cụ chích thuốc đó là của tôi thì êm chuyện, chớ không sao đâu.
Thật quả như lời thầy Hai Để, đến phiên tòa sau, ông Để nhìn nhận những y cụ chích thuốc và số thuốc chích mà hôm nọ nhà chức trách khám xét lấy tại Hộ Pháp Đường trong Tòa Thánh là của ông, vì mỗi ngày ông vô chích thuốc cho mấy người bịnh nên ông gởi lại đó. Tòa xử trắng án.
Mặc dầu được trắng án nhưng cũng không thể tiếp tục vụ chích thuốc nữa được. Từ đây những người bịnh chói nước ra ở tại nhà Cô Tư (chị ruột của Đức thầy) tại chợ cũ Tây Ninh, đặng mỗi bữa sáng đến nhà thương Tây Ninh chích thuốc.
Đến ngày 16 tháng 10 Quí Dậu (dl 3-11-1933), dựng nhà lớn tại Sở Trường Hòa để làm nhà thờ. Vụ dựng nhà nầy có những người thân quyến của anh em Phạm môn đến tham dự rất đông, phỏng chừng 5 hoặc 6 trăm người. Lúc 7 giờ sáng ngày 16-10-Quí Dậu (1933) khởi sự. Khi vừa kéo lên xong, thợ mộc đang chỉnh đốn lại đặng đóng đòn tay thì bỗng đâu có ông Phủ Sửu, quan Chủ Quận Châu Thành Tây Ninh đi với 5 người lính và Hương Thân Hướng ở Chà Là vô tới. Những anh em thấy có lính thì rất lo sợ mặc dầu không biết là lính Quận có ông Quận đi chung vô đây. Khi ông Quận vô vừa tới, Đức thầy thấy biết là ông Quận Sửu, liền bước ra bắt tay chào hỏi.
Ông Quận Sửu hỏi: - Ông làm gì đây?
Đức thầy trả lời: - Dựng nhà.
Ông Quận Sửu: - Dựng nhà sao đông quá như vậy?
Đức thầy: - Vì bổn đạo nghe dựng nhà nên đến phụ.
Ông Quận Sửu: - Đây là cuộc họp hội chi chớ dựng nhà sao đông quá vậy? Có lịnh của quan lớn chánh (Tỉnh Trưởng) nếu có đám tiệc chi, hễ quá 10 người là phải xin phép, còn vụ nầy đông đến bốn năm trăm người mà không xin phép, nên tôi phải lập biên bản, đồng thời ông Quận biểu mấy người lính kêu hết những người đang ở ngoài chỗ dựng nhà vô đây và biểu thầy Đội lập biên bản. Nhờ lúc ông Quận nói chuyện với Đức thầy, anh em rút vô đám rừng phía sau chỗ dựng nhà, lại thêm hai bên hông chỗ dựng nhà là hai đám mía lau rất tốt, cao khỏi đầu nên anh em chun vô đó cũng đông, đến khi mấy người lính kêu ra thì còn không tới 30 người. Ông Quận Sửu giận dữ nói lớn: Cho mấy người giỏi trốn, rồi đây sẽ biết, nói rồi biểu Đức thầy ký biên bản rồi ra về liền.
Ông Quận đi xe hơi từ Tây Ninh đến Chà Là rồi đi xe bò ra Sở Phạm môn Trường Hòa.
Đến cuối năm Quí Dậu (1933), gần Tết Nguyên đán, ông Trưởng Tâm (Xếp lính kín Tây Ninh) đi với bốn năm người nữa mặc đồ thường (không biết chức vụ) đến tại Hộ Pháp Đường trình giấy chứng của quan Chánh Tham Biện (Tỉnh Trưởng) Tây Ninh cho lịnh khám xét Hộ Pháp Đường, lấy rất nhiều giấy tờ quan trọng như:
- Tờ Hiến Thân của anh em Phạm môn.
- Văn thơ của bổn đạo có, ngoại đạo có nói về tôn giáo, hoặc nói về quốc sự cũng có, đáng kể nhứt là thơ của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ở Nhựt và Nguyễn Hải Thần ở Trung quốc, cùng nhiều nhà cách mạng khác.
Nội vụ tài liệu nầy lấy đem hết về Tây Ninh nạp cho Tỉnh Trưởng. Tỉnh Trưởng Tây Ninh đem nạp cho Toàn Quyền Nam Việt tại Sài Gòn (Pierre Pasquier).
Sau đó lối hai tháng thì có lịnh đóng cửa các sở Phạm môn do chánh quyền làm sẵn đem đến dựng trước cửa mỗi nhà sở một tấm bảng như vầy: "Niêm cửa lại vì lập Hội Kín không xin phép trước ".
Mặc dầu đã có lịnh của chánh quyền đóng cửa như vậy nhưng anh em cũng âm thầm ở tại nhà sở như trước, chỉ đóng cửa trước và giảm sự tụ tập đông đảo mà thôi.
Vì làng xã địa phương thấy anh em nơi đây đều lo làm ăn tu hành và cả thảy đều trường chay, chớ không có điều chi khả nghi làm cách mạng nên họ ngó lơ cho anh em ở đó.
Vụ khám xét lấy giấy tờ tại Hộ Pháp Đường và đóng cửa các cơ sở Phạm môn, nhưng cũng còn bị đưa ra Tòa. Đức Hộ Pháp mời Đức Quyền Giáo Tông (Thượng TrungNhựt) cùng đi với Đức Hộ Pháp và những anh em Phạm môn có trát đòi.
Đến giờ xử, Tòa kêu Đức thầy ra buộc tội là lập Hội riêng mà không xin phép trước. Đức Quyền Giáo Tông xác nhận các sở nầy là của chung của Đạo Cao Đài chớ không phải của riêng ai, chỉ tạo ra cơ sở để làm ăn sanh sống, nhưng Tòa vẫn kêu phạt mỗi vị Chủ sở là 18 quan (lối 20 $ hồi thời đó), còn Đạo sở mỗi người phạt 16 quan. Đức thầy dạy anh em ký tên chống án lên Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn.
Đến ngày được trát Tòa Sài Gòn đòi hầu Tòa, anh em mượn ghe rồi đem gạo theo ăn. Đến giờ xử, Tòa kêu án y như Tòa Tây Ninh. Ông Luật Sư Dương Văn Giáo (Bảo Cô Quân) biểu anh em chống án qua Pháp và sau đó được Tòa Án tối cao bên Pháp xử trắng án.
Còn vụ cả giấy tờ lấy nơi Hộ Pháp Đường hôm nọ, Tỉnh Trưởng Tây Ninh chuyển nạp về Sài Gòn. Quan Toàn Quyền Nam Việt Pierre Pasquier bổn thân chở bằng máy bay về chánh quốc Pháp, cố ý diệt Đạo, nhưng đi nửa chừng, máy bay phát hỏa, cả người và đồ đạc đều bị thiêu hủy hết.
Cũng trong năm Quí Dậu (1933), cơ Đạo biến động, Chức sắc Đại Thiên phong nghịch lẫn nhau, rồi lần lần đi đến chỗ chia phe phân phái, đại ý như phái của ông Đầu Sư Thượng Tương Thanh (Nguyễn Ngọc Tương) và Đầu Sư Ngọc Trang Thanh (Lê Bá Trang) lập một phái mệnh danh là "BAN CHỈNH ĐẠO", địa điểm tại Bến Tre, tức Tòa Thánh An Hội Bến Tre.
Ông Lê Kim Tỵ và Giáo Hữu Chính lập một phái gọi là phái TIÊN THIÊN, địa điểm là bìa Sân Cu giáp ranh với Bàu Đế và sau nầy dời về Sóc Sãi Bến Tre.
Ông Phối Sư Thái Ca Thanh (Đốc Phủ Ca) lập một phái gọi là CHƠN MINH LÝ, địa điểm tại Mỹ Tho.
Ông Ngô Đức Nhuận và Nguyễn Ngọc Điền (Chín Ruộng) lập một phái gọi là Phái TUYỆT CỐC, không có địa điểm chánh thức, và còn nhiều phái khác nữa.....
Từ đây, những nhóm người tách rời Tòa Thánh thường đánh đổ Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt và Đức Hộ Pháp, thậm chí có phần tử dựa vào quyền đời để hạ kẻ đối lập với họ. Những việc quá đau lòng, xin miễn chỉ đích danh, vì dầu sao cũng là bậc đàn anh trong cửa Đạo và đã hữu công với Đạo từ buổi phôi thai.
Đến tháng giêng năm Giáp Tuất (1934), khi cúng đàn rằm tháng giêng vừa xong, liền được tin ngày 20 tháng giêng nầy có Chi phái về Tòa Thánh đăng điện, tức là lên ngôi Giáo Tông và sẽ đuổi Đức Quyền Giáo Tông ra khỏi Tòa Thánh.
Đức Quyền GiáoTông lấy làm lo lắng nên cho Đức thầy hay nhờ Đức thầy liệu cách bảo vệ sự an toàn cho Tòa Thánh.
Đức thầy nói: - Xin anh cả yên tâm, để mặc em lo liệu.
Và liền kế, Đức thầy ra lịnh cho Thủ Bổn Phạm môn là ông Nguyễn Văn Gia khẩn cấp kêu hết anh em Chủ sở và đạo sở nơi các sở Phạm môn phải có mặt tại Tòa Thánh trước 5 giờ sáng ngày 20 tháng giêng Giáp Tuất (1934) để Đức thầy dạy việc, mỗi cơ sở chỉ chừa lại một người giữ nhà mà thôi.
Vừa rạng chơn trời ngày 20 tháng giêng Giáp Tuất (1934), cả anh em lớn nhỏ nơi các sở Phạm môn đều tụ đến đủ mặt tại Hiệp Thiên Đài. Đức thầy giao cho ông Giáo Sư Thượng Minh Thanh lãnh trách nhiệm điều động thống nhứt, ông liền phân ra giữ các cửa ra vào Nội ô Tòa Thánh .
Đúng như ngày đã định, lúc 7 giờ sáng ngày 20 tháng giêng năm Giáp Tuất (dl 5-3-1934) nhóm người Chi phái kéo về Tòa Thánh rất đông, vừa đến cửa Hòa Viện (cửa số 1) thì ngưng lại, rồi phân ra. Một nhóm thì kéo vào cửa số 1, còn một nhóm thì kéo đến cửa số 2, cũng đồng xông vào Nội ô.
Những người giữ cửa được lịnh của người làm đầu bảo ngăn lại, không cho vô và nói rằng: Các Hiền huynh nán đợi chúng tôi báo cáo với Đức Quyền Giáo Tông và đợi có lịnh của Anh Cả cho mời, các Hiền huynh sẽ vô cũng không muộn. Nhưng nhóm người nầy không chịu chờ đợi, mà vẫn ngang nhiên xông đại vào. Những người giữ cửa thì cố ngăn lại, khiến nên kẻ lấn vào, người xô ra. Cuộc xô lấn ồn ào như vậy khá lâu, rốt cuộc lại dùng xen võ lực để giành phần thắng với nhau, và diễn tiến mãi đến lúc 9 giờ mới kết thúc là: nhóm người Chi phái cam đành thất bại, đồng thui thủi trở về trên vẻ mặt mỗi người đều đầy khí sắc căm hờn giận dữ.
Sau cuộc biến động ngày 20 tháng giêng vừa kể trên, Đức Quyền Giáo Tông mời anh em Phạm môn dự bữa tiệc thân mật, có Đức thầy (Đức Hộ Pháp) tham dự.
Trước khi nhập tiệc, Đức Quyền Giáo Tông nói:
- Lúc trước Đức Hộ Pháp mở Phạm môn có một phần Chức sắc lớn trong Hội Thánh đánh đổ, chớ ít ai nhìn nhận là đúng. Hễ ai nói sao Qua nghe vậy, chớ thật ra Qua cũng không biết Đức Hộ Pháp mở Phạm môn có ích lợi gì. Đến nay, Qua mới biết, nhờ có mấy em dám hy sinh để bảo tồn nghiệp Đạo.
Cũng trong bữa tiệc nầy, Đức Quyền Giáo Tông ngỏ ý yêu cầu Đức Hộ Pháp cho Hội Thánh CTĐ mượn người Phạm môn để bổ đi các tỉnh, hầu trấn an tinh thần bổn đạo đang rất hoang mang, và Đức thầy hứa chịu.
Qua cơn biến cố trong cửa Đạo, người làm đầu một Chi phái (xin miễn chỉ danh vì cũng là bậc Thiên phong có đại công trong buổi đầu tiên Khai Đạo) lại mượn tay chánh quyền để trả thù trận thất bại vừa rồi. Nên sau vụ sóng gió trong cửa Đạo hôm ngày 20 tháng giêng Giáp Tuất (1934) thì một số đông anh em Phạm môn bị bắt giam tại khám đường Tây Ninh, buộc tội vu vơ đủ thứ. Mục đích chính là bảo khai cho Đức Quyền Giáo Tông chủ mưu xúi các anh em nầy đánh đuổi người Chi phái, không cho vô Tòa Thánh bái lễ. Nhưng những người nầy không chịu khai như vậy, nên bị tra tấn rất tàn nhẫn, mấy ngày sau mới lần lượt thả về, chỉ còn lại 6 người.
Sáu người còn lại bị dùng cực hình tra tấn, nhưng 6 anh nầy cương quyết thà là chịu chết chớ không khai như lời của họ hướng dẫn, và mãi như vậy đến sau mới thả về thì có người không đi được. (Yêu cầu xem bài giáng cơ của Hương Bảo Thoàn, chép ở phần sau nói về 6 vị Phạm môn nầy).
Cơ Đạo đang gặp cơn thử thách quá nặng nề, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đồng tâm hợp sức lèo lái Đạo thuyền cố vượt qua cơn bão tố, nhưng khổ nỗi lại gặp cảnh họa vô đơn chí là: ngày 13-10-Giáp Tuất (dl 7-11-1934), Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên, làm cho cả Hội Thánh, Chức sắc, Chức việc và toàn đạo đều ngậm ngùi thương tiếc. Toàn đạo đều thọ tang và tận tâm chung lo cuộc tang lễ rất long trọng.
Sau cuộc tang lễ Đức Quyền Giáo Tông, Hội Thánh liền triệu tập một phiên Đại Hội để chọn người lãnh đạo. Hội Thánh CTĐ sau nhiều lần bàn giải sôi nổi và sâu rộng, toàn Hội đều đồng thanh quyết nghị Đức Hộ Pháp Chưởng quản HTĐ kiêm Chưởng quản CTĐ, tức là Hộ Pháp Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng.
Qua năm Ất Hợi (1935), Đức thầy nhớ lời hứa với Đức Quyền Giáo Tông nên Đức thầy đưa anh em Phạm môn ra cầu phong do đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh đêm rằm tháng 2 năm Ất Hợi (dl 19-3-1935), Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ giáng cơ phong ông Trịnh Phong Cương (Lễ Sanh Thượng Cương Thanh) lên Giáo Hữu, còn những vị có danh sách dưới đây đều là Lễ Sanh phái Thượng:
NAM PHÁI:
| 1. |
Trịnh Phong Cương |
|
Giáo Hữu-phái Thượng. |
| 2. |
Lê Văn Tri |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 3. |
Nguyễn Văn Thế |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 4. |
Võ Văn Lẽo |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 5. |
Bùi Văn Trực
tự Nguyệt |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 6. |
Võ Văn Đợi
tự Đại |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 7. |
Đinh Văn Tiết |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 8. |
Trịnh Văn Phận |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 9. |
Đỗ Văn Viện |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 10. |
Phạm Công Đằng |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 11. |
Nguyễn Văn Sĩ
tự Đại |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 12. |
Lê Văn Gấm |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 13. |
Nguyễn Văn Lư |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 14. |
Phạm Văn Út |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 15. |
Trần Văn Như |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 16. |
Nguyễn Văn Lịnh |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 17. |
Trần Văn Nhượng |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 18. |
Lại Văn Sắc |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 19. |
Võ Văn Chở |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 20. |
Nguyễn Văn Yên |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 21. |
Trần Văn Lợi |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 22. |
Phạm Văn Lễ |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 23. |
Phan Văn Đức |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 24. |
Võ Văn Dần |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 25. |
Nguyễn Văn Thông |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 26. |
Nguyễn Văn Ráng
tự Châu |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
| 27. |
Đặng Văn Cận |
|
Lễ Sanh-phái Thượng |
NỮ PHÁI:
| 1. |
Trịnh Thị Bền, |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 2. |
Lê Thị Rổi |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 3. |
Võ Thị Bông |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 4. |
Võ Thị Thoàn |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 5. |
Đinh Thị Kiêm |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 6. |
Lưu Thị Sen |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 7. |
Trần Thị Ơn |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 8. |
Đinh Thị Tiết |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 9. |
Nguyễn Thị Gạo |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 10. |
Lý Thị Yếu |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 11. |
Lê Thị Ngơi |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 12. |
Lê Thị Lơi |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 13. |
Lâm Thị Nèn |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
| 14. |
Đinh Thị Chén |
|
Lễ Sanh-Giáo Thiện |
Và Đức Lý Giáo Tông cho chung một bài thi tứ tuyệt:
Một trường vinh hiển buổi sau đây,
Danh thể khá tua trả nghĩa thầy.
Nắm giữ mối giềng nền Đạo cả,
Lão đương lừa lọc trận rồng mây.
Sau khi cầu phong rồi, Đức thầy định bổ mỗi vị lãnh trách nhiệm làm Đầu Họ Phước Thiện một tỉnh, nghĩa là chánh thức khai mở Cơ Quan Phước Thiện kể từ nay và cũng là Phạm môn đã bị chánh quyền Pháp đóng cửa nên biến thành Cơ Quan Phước Thiện khắp cả các địa phương.
Đức thầy chọn 20 vị để bổ đi 20 tỉnh trong Nam phần Việt Nam, rồi dạy bắt thăm, hễ ai trúng đâu thì đi đó. Đức thầy lại ban cho những anh được cầu phong kỳ nầy (15-2-Ất Hợi 1935) mỗi vị một Đạo hiệu đặc biệt.
Đạo hiệu của mỗi vị và ai trúng thăm lãnh trách nhiệm Đầu Họ Phước Thiện tỉnh nào, kể ra dưới đây:
(Theo số thứ tự của mỗi tỉnh hồi thời đó)
| Viết tắt: |
LS-GT: Lễ Sanh - Giáo Thiện.
ĐHPT: Đầu Họ Phước Thiện.
|
| TT. |
Họ và Tên |
Đạo hiệu |
Phẩm tước |
Trách nhiệm |
| 1. |
Đinh Văn Tiết |
Chí Khiết |
LS-GT |
ĐHPT Gia Định |
| 2. |
Nguyễn Văn Thế |
Kế Thiền |
LS-GT |
ĐHPT Châu Đốc |
| 3. |
Lại Văn Sắc |
Trường Đức |
LS-GT |
ĐHPT Hà Tiên |
| 4. |
Võ Văn Đợi tự Đại |
Linh Đoán |
LS-GT |
ĐHPT Rạch Giá |
| 5. |
Võ Văn Lẽo |
Trì Hoán |
LS-GT |
ĐHPT Trà Vinh |
| 6. |
Võ Văn Dần |
Hậu Hối |
LS-GT |
ĐHPT Sa Đéc |
| 7. |
Nguyễn Văn Lịnh |
Huyền Sinh |
LS-GT |
ĐHPT Bến Tre |
| 8. |
Trần Văn Như |
Tín Thành |
LS-GT |
ĐHPT LongXuyên |
| 9. |
Bùi Văn Trực tự Nguyệt |
Nhựt Diệu |
LS-GT |
ĐHPT Tân An |
| 10. |
Đỗ Văn Viện |
Điền Quân |
LS-GT |
ĐHPT SócTrăng |
| 11. |
Nguyễn Văn Ráng tự Châu |
Hiệp Phố |
LS-GT |
ĐHPT Thủ Dầu Một |
| 12. |
Trịnh Văn Phận |
Nhơn Ái |
LS-GT |
ĐHPT Tây Ninh |
| 13. |
Nguyễn Văn Sĩ tự Đại |
Trạch Thiện |
LS-GT |
ĐHPT Biên Hòa |
| 14. |
Lê Văn Tri |
Triết Hóa |
LS-GT |
ĐHPT Mỹ Tho |
| 15. |
Phan Văn Đức |
ThượngChiếu |
LS-GT |
ĐHPT Bà Rịa |
| 16. |
Phạm Công Đằng |
Thượng Đạt |
LS-GT |
ĐHPT Chợ Lớn |
| 17. |
Trần Văn Lợi |
Chuyên Đại |
LS-GT |
ĐHPT VĩnhLong |
| 18. |
Phạm Văn Lễ |
Thừa Hậu |
LS-GT |
ĐHPT Gò Công |
| 19. |
Nguyễn Văn Thông |
|
LS-GT |
ĐHPT Cần Thơ |
| 20. |
Nguyễn Văn Yên |
Hướng Nhàn |
LS-GT |
ĐHPT Bạc Liêu |
| 21. |
Trịnh Phong Cương |
Trọng Phương |
Thượng Giáo Hữu |
Đầu Họ Hành Chánh Bạc Liêu. |
| 22. |
Lê Văn Gấm |
Diệu Âm |
LS-GT |
thế ông Dần ở SaĐéc |
| 23. |
Nguyễn Văn Lư |
Quảng Lự |
LS-GT |
C.Q T,Mộc TT TòaThánh |
| 24. |
Phạm Văn Út |
Lưu Thiện |
LS-GT |
tài xế cho Đức thầy |
| 25. |
Trần Văn Nhượng |
Tưởng Thị |
LS-GT |
sau khi cầu phong bịnh |
| 26. |
Võ Văn Chở |
Trường Tải |
Đốc Nhạc Chưởng quản Bộ Nhạc |
| 27. |
Đặng Văn Cận |
Viễn Kiến |
LS phái Thượng |
|
NỮ PHÁI: Đầu Họ Đạo Phước Thiện Nữ.
| TT. |
Họ và Tên |
Đạo hiệu |
Phẩm tước |
Trách nhiệm |
| 1. |
Trịnh Thị Bền |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Bạc Liêu |
| 2. |
Lê Thị Rổi |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Chợ Lớn |
| 3. |
Võ Thị Bông |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Rạch Giá |
| 4. |
Võ Thị Thoàn |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Mỹ Tho |
| 5. |
Đinh Thị Kiêm |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Tân An |
| 6. |
Lưu Thị Sen |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Tây Ninh |
| 7. |
Trần Thị Ơn |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Vĩnh Long |
| 8. |
Đinh Thị Tiết |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Sa Đéc |
| 9. |
Nguyễn Thị Gạo |
|
LS-GT |
ĐHPT Nữ Gia Định |
Những tỉnh không có ĐHPT Nữ thì Nam phái kiêm luôn.
Riêng phần Nữ phái cũng có một số người kể dưới đây được Đức thầy cho mỗi người một Đạo hiệu:
| 1. |
Từ Thị Kế, |
Thừa Thiện |
|
| 2. |
Lê Thị Lơi, |
Hồng Huệ |
| 3. |
Đinh Thị Chén, |
Hàm Đức |
| 4. |
Phạm Thị Hoảnh, |
Giác Thành |
| 5. |
Lê Thị Chinh, |
Thiền Tín |
| 6. |
Trần Thị Ơn, |
Quang Ái |
| 7. |
Lưu Thị Sen, |
Duy Từ |
| 8. |
LâmThị Nhiệp, |
Ngọc Căn. |
Đức thầy mời Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa trở về HTĐ lãnh trách nhiệm Chưởng quản Phước Thiện vì Ngài Khai Pháp đang làm Quyền Ngọc Chánh Phối Sư bên CTĐ và đưa ông Phối Sư Ngọc Trọng Thanh làm Q. Ngọc Chánh Phối Sư.
Khi cuộc bắt thăm, anh em Phạm môn mới cầu phong, mỗi người đi hành đạo một tỉnh trong Nam phần VN, Đức thầy dạy những anh nầy phải ở thường trực tại Tòa Thánh để học về cách thức Hành Chánh Đạo, nghi lễ, ngoại giao, đi lễ, nhứt là phải thuộc làu hết Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, cùng giọng đọc kinh, mỗi đêm đều tựu đến Hộ Pháp Đường để học từ 6 giờ đến 10 giờ, bổn thân Đức thầy chỉ dạy. Hộ Pháp Đường thời nầy còn là nhà cột cây, lợp tranh, nền đất, ba căn không chái, nên không rộng lắm, khi anh em tựu đến đông thì hơi chật.
Trước nhứt, Đức thầy dạy các anh đi lễ và học Kinh Thiên Đạo Thế Đạo. Vì Tân Kinh lúc đó, các Đấng mới cho nên chép lại bằng chữ viết, chớ chưa có in ra và cũng chưa có máy đánh chữ. Mỗi người chép một bản kinh để học thuộc lòng, khổ nhứt là những người không biết chữ, phải nhờ người khác đọc dùm đặng đọc theo học thuộc lòng, người sáng dạ còn đỡ khổ, bằng tối dạ học tới ba bốn ngày cũng chưa thuộc bài nào. Hễ người nào không thuộc thì đương nhiên bị rầy.
Về đi lễ, mỗi hiệp đi 4 hoặc 6 người, khởi đầu Đức thầy đi trước, các người nầy đi sau, đi lối đôi ba lần thì Đức thầy đứng riêng ra ngoài xem, hễ ai đi trật thì Đức thầy sửa lại và tập mãi như vậy cho đến cả tuần lễ mà có người vẫn còn đi trật, nhứt là lối đi Lưỡng nghi, Tứ tượng và Bát quái.
Thỉnh thoảng Đức thầy dạy về tư cách khi đến quan viên, nhân sĩ, các tôn giáo bạn, nhà thờ, chùa, miểu, phải như thế nào. Thậm chí đến cách lạy, lạy theo mỗi tôn giáo, lạy Ông Bà, Đức thầy đều dạy đầy đủ chi tiết mỗi cách lạy. Đức thầy cũng lạy trước, anh em tập lạy theo sau. Cách lạy thường sự nhứt mà lại khó nhứt là lạy Ông Bà theo cổ lệ VN, có người lạy cả chục lần cũng chưa đúng như Đức thầy lạy để anh em xem mà tập theo.
Đức thầy nói: Qua vẫn biết mấy em mấy con từ trước đến giờ chỉ lo bề ruộng rẫy, nên nay phải học những việc nầy là lựng khựng, nhưng nay mấy em đã lãnh trọng trách trong cơ cứu khổ là đi khai mở Cơ Quan Phước Thiện, làm đàn anh của nhơn sanh, dìu dẫn nhơn sanh trên đường tạo công lập vị nơi cảnh thiêng liêng mà không học sao được, dầu có khó khăn bao nhiêu cũng phải ráng học.
Đặc biệt về văn kiện nhờ Ngài Khai Pháp HTĐ Chưởng quản Phước Thiện tận tâm nghiên cứu lập thành 24 kiểu công văn, rồi in bột cho mỗi vị Đầu Họ Phước Thiện một bản.
Về việc học tập đã tạm xong, nên mấy anh lãnh nhiệm vụ đi hành đạo địa phương xin phép đi làm mướn hoặc ai có thể mua bán chi tùy ý để kiếm tiền sắm áo mão Lễ Sanh một bộ Đại phục và hai bộ Tiểu phục cùng quần áo thường dùng để đem theo, nhứt là áo Tiểu phục hai bộ mới được, vì hồi đó, hễ ra khỏi nhà là mặc áo Tiểu phục, hơn nữa là tiền xe đi đến tỉnh nhiệm của mình.
Đầu tháng 8 năm Ất Hợi (1935), Đức thầy cho ông Nguyễn Văn Gia Thủ Bổn Phạm môn hay đến ngày 18-8-Ất Hợi (dl 15-9-1935) sẽ làm lễ Hồng Thệ cho những vị Phạm môn chưa hồng thệ kỳ trước. Ông Thủ Bổn Phạm môn liền gởi thơ cho các sở hay. Đúng ngày đã định, anh chị em đều tựu về Hộ Pháp Đường (chỗ Tịnh Tâm Hiên, Cô Phối Sư Hương Tranh ở hiện nay, nhưng hồi đó nhà cột cây lợp tranh).
Việc hồng thệ (Đào Viên Pháp) kỳ nầy cũng thi hành y như kỳ mùng 3 tháng giêng Nhâm Thân (1932), và kỳ nầy kết quả được 52 nam và 27 nữ:
Những người hồng thệ ngày 18-8-Ất Hợi (dl 15-9-1935), danh sách như dưới đây:
| TT. |
Họ và Tên |
Xã |
Quận. |
Tỉnh |
| 1. |
Võ Văn Sáng |
Cẩm Giang |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 2. |
Nguyễn Văn Hưng |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 3. |
Trần Văn Định |
Long Cang |
|
Chợ Lớn |
| 4. |
Lê Phước Đặng |
Long Cang |
|
Chợ Lớn |
| 5. |
Văn Tấn Bảo |
Lương H.Lạc |
ChâuThành |
Mỹ Tho |
| 6. |
Lê Văn Khả |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 7. |
Trịnh Văn Tiết |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 8. |
Võ Văn Đành |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 9. |
Lê Văn Quốc |
Thái Mỹ |
Hốc Môn |
Gia Định |
| 10. |
Trịnh Văn Thu |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Gia Bình |
| 11. |
Lê Văn Tuấn tự Tân |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 12. |
Trần Văn Rỡ |
Thái Mỹ |
Hốc Môn |
Gia Định |
| 13. |
Trịnh Văn Bân |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 14. |
Nguyễn Văn Bồng |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 15. |
Lê Văn Càn |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 16. |
Huỳnh Văn Ngữ |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 17. |
Trần Văn Ân |
Long Hiệp |
|
Chợ Lớn |
| 18. |
Đặng Văn Khê |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 19. |
Trần Văn Thạnh |
Long Hiệp |
|
Chợ Lớn |
| 20. |
Cao Văn Thành |
HiệpNinh |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 21. |
Nguyễn Văn Niên |
LongCang |
|
Chợ Lớn |
| 22. |
Huỳnh Văn Hiếu |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 23. |
Lâm Văn Nhân |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 24. |
Lâm Văn Đứa |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 25. |
Nguyễn Văn Gia |
LongCang |
|
Chợ Lớn |
| 26. |
Hà Minh Lý |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 27. |
Cao Văn Thọ |
HiệpNinh |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 28. |
Trương Công Thống |
Bình Chánh |
|
Tân An |
| 29. |
Phạm Văn Hường |
Bình Nhựt |
|
Tân An |
| 30. |
Nguyễn Văn Thìn |
ThạnhĐức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 31. |
Võ Văn Chi |
|
|
Gia Định |
| 32. |
Nguyễn Văn Quận |
Bình Chánh |
|
Tân An |
| 33. |
Trần Văn Dậu |
Tân Bửu |
|
Chợ Lớn |
| 34. |
Dương Văn Thai |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 35. |
Đào Văn Mễ |
Tân Lập |
|
Chợ Lớn |
| 36. |
Trà Văn Phiên |
ThạnhĐức |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 37. |
Lê Văn Hay |
MỹLạcThanh |
|
Tân An |
| 38. |
Nguyễn Văn Biểu |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 39. |
Nguyễn Văn Tư |
ThanhPhước |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 40. |
Cao Văn Giai |
Hưng Mỹ |
Châu Thành |
Trà Vinh |
| 41. |
Lê Văn Lưu |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 42. |
Nguyễn Văn Muồi |
|
Mộc Hóa |
Tân An |
| 43. |
Lê Văn Giáp |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 44. |
Võ Văn Dần |
Thanh Mỹ |
Châu Thành |
Trà Vinh |
| 45. |
Phan Văn Đức |
|
|
|
| 46. |
Phạm Văn Liềng |
ThạnhPhú |
Cai Lậy |
Mỹ Tho |
| 47. |
Phạm Văn Sậy |
ThạnhPhú |
Cai Lậy |
Mỹ Tho |
| 48. |
Trần Duy Nghĩa |
Tòa Thánh Tây Ninh - Khai Pháp |
| 49. |
Trần Quang Thế |
Tòa Thánh Tây Ninh - Tiếp Lễ Nh.Q. |
| 50. |
Thượng Trí Thanh |
Tòa Thánh Tây Ninh - Phối Sư |
| 51. |
Thái Gấm Thanh |
Tòa Thánh Tây Ninh - Giáo Sư |
| 52. |
Trang Văn Giáo |
Tòa Thánh Tây Ninh Tả - Phan Quân |
NỮ PHÁI:
| TT. |
Họ và Tên |
Xã |
Quận. |
Tỉnh |
| 1. |
Ngô Thị Giềng |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 2. |
Lê Thị Hàm |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 3. |
Lê Thị Hơn |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 4. |
Phan Thị Tư |
Trường Hòa |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 5. |
Nguyễn Thị Ninh |
|
Mộc Hóa |
Tân An |
| 6. |
Đinh Thị Chén |
Gia Bình |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 7. |
Từ Thị Kế |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 8. |
Lê Thị Yếu |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 9. |
Lê Thị Ngơi |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 10. |
Đỗ Thị Chắc |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 11. |
Huỳnh Thị Khoa |
Bình Nhựt |
Thủ Thừa |
Tân An |
| 12. |
Võ Thị Thoàn |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 13. |
Lâm Thị Mèn |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 14. |
Tô Thị Bẳng |
Lộc Hưng |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 15. |
Võ Thị Thêu |
Lộc Hưng |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 16. |
Lê Thị Lơi |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 17. |
Phạm Thị Hoảnh |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 18. |
Lê Thị Nừng |
|
|
Nam Vang |
| 19. |
Lê Thị Chinh |
Bình Nhựt |
Thủ Thừa |
Tân An |
| 20. |
Lưu Thị Sen |
Bình Nhựt |
Thủ Thừa |
Tân An |
| 21. |
Trần Thị Ơn |
Trường Hòa |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 22. |
Văn Kim Giai |
Trường Hòa |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 23. |
Trần Thị Giống |
Gia Lộc |
Trảng Bàng |
Tây Ninh |
| 24. |
Trần Thị Nữ |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 25. |
Lý Thị Gần |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
| 26. |
Lâm Thị Nhiệp |
LongThành |
ChâuThành |
Tây Ninh |
Bước qua đầu tháng 9-Ất Hợi (1935), Đức thầy cho hay, người nào lãnh lịnh đi hành đạo, hãy sắp đặt đặng sáng 12 là đi.
Đến ngày 11-9-Ất Hợi (1935), mấy anh em được lịnh bổ đi hành đạo đều tựu đến HTĐ, đặng sáng ngày 12 lên xe đi. Hơn nữa, một số đông anh chị em Phạm môn, mặc dầu không có lịnh bổ đi hành đạo trong kỳ nầy cũng tựu về đây để đưa thân hữu của mình đi tha phương hành đạo. Vì thế cuộc tiễn đưa nầy rất đông.
Lối 4 giờ sáng ngày 12-9-Ất Hợi (dl 9-10-1935), mấy chị dọn cơm lên xong hết vì đã nấu sẵn từ khuya, cả anh em ăn cơm xong rồi, vừa 6 giờ sáng, anh em đồng kéo nhau vô Hộ Pháp Đường làm lễ từ giã Đức thầy, rồi đến Đền Thánh cầu nguyện, đảnh lễ Đức Chí Tôn. Đức thầy cũng đến Đền Thánh cầu nguyện và căn dặn lần chót. Đức thầy nói:
- Nay mấy em đi hành đạo, thầy không có món gì để tặng, vậy thầy tặng chung cho mấy em một bài thi để hằng tâm kỷ niệm:
Buồn chưa đạt được phép thần thông,
Dụng thế phân thân hiệp đại đồng.
Ước tóm địa cầu làm một cửa,
Mong gom thiên hạ lại đồng tông.
Đưa gương diệu lý dìu Âu chủng,
Cầm kiếng thiêng liêng chiếu Á đông.
Bước tục từng quen nơi cửa Đạo,
Đường văn gặp bạn cũng vui lòng.
Khi tiễn ra xe, vì xe đã dặn trước nên đến đậu tại cửa số 1 Nội ô Tòa Thánh (Cửa Hòa Viện). Đức thầy dạy thêm:
- Mấy em khi tới địa phương, hễ gặp Chùa Phật, Nhà thờ, hoặc Đình Thần nơi các xã, thì xin phép người ở đó vào làm lễ ra mắt với các Đấng ấy. Và vừa rồi có lịnh của Hội Thánh mới ban cho các địa phương, hễ có Chức sắc đến vào bái lễ Chí Tôn thì phải tiếp rước có chuông trống tùy theo phẩm tước, nhưng mấy em bên PhướcThiện nên khước từ điều ấy.
Lúc từ giã lên xe, Đức thầy và cả anh em Phạm môn lớn nhỏ đều đổ lệ bịn rịn với nhau, nên mãi đến 8 giờ, xe mới bắt đầu lăn bánh. Khi xe xuống tới Gò Dầu thuộc xã Thanh Phước, là quê hương của ông Phạm Công Đằng, anh em nơi đó đón xe ngừng lại để tiễn đưa một lần nữa. Vì sự tiễn đưa và bịn rịn như vậy, đến gần 12 giờ trưa xe mới tới Chợ Lớn. Anh em đều vào Thánh Thất Chợ Lớn nghỉ và dùng cơm trưa tại đây, vì Hội Thánh cho hay trước nên vụ cơm nước đã chuẩn bị sẵn sàng.
Dùng cơm xong liền kéo ra bến xe Lục Tỉnh kiếm xe đi về tỉnh của mình đắc lịnh bổ nhiệm.
Đặc biệt là Đạo Nghị Định thuyên bổ Đầu Họ Phước Thiện kỳ nầy do Ngọc Chánh Phối Sư và Ngài Khai Pháp HTĐ Chưởng quản PT đồng ký tên và Đức Hộ Pháp phê chuẩn.
Những vị Đầu Họ Phước Thiện buổi đầu tiên khi đến địa phương đều ở tại các Thánh Thất chung với Đầu Họ Hành Chánh Đạo, nhưng việc ai nấy lo, nếu gặp việc cần thì chung lo giúp đỡ lẫn nhau.
■ Đầu Họ Hành Chánh lo phổ độ nhơn sanh.
■ Đầu Họ Phước Thiện lo cho người hiến thân vào Phước Thiện, khai mở cơ sở Lương điền, Công nghệ và Thương mãi. Việc Đạo sự lúc nầy tiến triển khả quan, nhứt là việc người hiến thân vào Phước Thiện và vụ khai mở sở Lương điền.
Đến ngày 27 tháng chạp Ất Hợi (1936), các vị Đầu Họ Phước Thiện tiếp được điện tín của Ngài Khai Pháp Chưởng quản Phước Thiện cho phép về nhà ăn Tết, mỗi người được về thăm gia đình, đến ngày mùng 8 tháng giêng năm Bính Tý (1936), phải có mặt tại Tòa Thánh để cúng vía Đức Chí Tôn và đãi lịnh Hội Thánh.
Qua đến ngày mùng 9, Đức thầy cho kêu hết những vị Đầu Họ Phước Thiện họp đủ mặt tại Hộ Pháp Đường, Đức thầy ban cho mỗi vị bốn Phép Bí tích là:
-
Phép Giải Oan.
-
Phép Tắm Thánh.
-
Phép Đoạn Căn (Phép Xác).
-
Phép Hôn Phối.
Đức thầy trục thần, khai khiếu, truyền dạy cách thức hành pháp cho từ người. Đức thầy lại ban cho mỗi vị một cây bạch đăng (đèn cầy trắng) và dặn khi nào gặp việc khó khăn không giải quyết được, đợi lúc 12 giờ khuya đổ lên, đốt cây đèn nầy và thành tâm cầu nguyện thì thầy sẽ giúp cho.
Khi các việc xong, Đức thầy dặn, cúng lễ rằm tháng giêng rồi trở xuống địa phương lo phận sự của mình. Còn về bản chỉ dẫn hành pháp, thầy sẽ gởi xuống sau. Việc hành pháp, mấy em phải ráng tập luyện, khi nhận thấy được sẽ thực hành, và khi hành pháp, kết quả thế nào, nhớ phúc trình cho thầy biết.
Nhờ Đức thầy truyền thần, khai khiếu và truyền pháp nên việc hành pháp rất kết quả, khả quan nhứt là Phép Giải Oan và Giải bịnh, sự hiệu lực thấy hiển hiện trước mắt, nên mỗi kỳ đàn, bổn đạo tựu đến Thánh Thất cúng rất đông để được giải oan luôn thể.
Về việc huyền diệu hiển hiện trong Phép Giải Oan, Giải bịnh, xin đơn cử đôi việc như sau:
■ Hồi năm Bính Tý (1936), ông Lễ Sanh - Giáo Thiện Võ Văn Dần, đạo hiệu là Hậu Hối, được lịnh đổi về trách nhiệm Đầu Họ Phước Thiện tỉnh Hà Tiên, nơi đây có Đạo Cao Đài rất ít nên người hiến thân vào Phước Thiện lại càng ít hơn các tỉnh khác, chỉ tạo độc nhứt một nhà sở Phước Thiện, còn đạo sở nơi nhà sở Phước Thiện nầy chỉ có 2 người, mà cả 2 người đều quá nghèo, hằng ngày phải đi làm củi mướn để mua gạo cho vợ con sống qua ngày. Chính ông Đầu Họ buổi đầu cũng phải đi làm mướn để kiếm tiền mua gạo tự sống chớ không ai cung cấp hết.
Một hôm nọ, sở làm củi cho hay bắt đầu từ ngày mai ngưng hoạt động, ông Đầu Họ Võ Văn Dần kiểm điểm lại số gạo chỉ còn dùng đôi ba ngày là hết, nên ông mượn chiếc ghe nhỏ của người bổn đạo ở gần nhà sở Phước Thiện, rồi tự chèo đi xuống quận Giồng Riềng thuộc tỉnh Rạch Giá, trước là thăm ông Đầu Họ Phước Thiện tại đây là ông Lễ Sanh Võ Văn Đại. Khi ghe đến Thánh Thất Giồng Riềng là chỗ ông Đầu Tộc Hành Chánh Lễ Sanh Thượng Vinh Thanh đóng văn phòng. Vừa bước lên bờ, chưa kịp vô nhà thì nghe có tiếng la ồn lên rằng: Nó đến đó, nó xách cái phản rượt chém người ta đó. Ông Giáo Thiện Dần nghe tiếng la liền ngó lên phía trước, thấy một người đàn ông độ 30 đến 35 tuổi, tay xách cái phản, đang rượt ông Đầu Tộc Đạo tại đây (LS Thượng Vinh Thanh) trong nhà hậu Thánh Thất chạy ra, vừa thấy ông Giáo Thiện Dần thì mừng, liền nói: May quá có ông Đầu Họ Phước Thiện đây, nhờ anh lớn giải bịnh dùm cho thằng nầy, nó điên dữ quá, tôi có giải bịnh cho nó mà không hết, bị nó
giựt đứt dải áo của tôi.
Ông Dần nói: Hết gạo mấy bữa nay, nhịn đói đến anh xin ít giạ lúa, chớ ai biết giải bịnh gì đâu.
Ông Đầu Tộc Vinh: Anh giúp dùm vụ nầy đi, rồi muốn mấy giạ cũng có, vừa nói vừa kéo tay ông Đầu Họ đi, kế người điên chạy tới.
Ông Dần đứng ngay thẳng lại, tay chỉ ngay mặt người điên hô lớn: - Đứng lại.
Người điên liền đứng khựng lại, mặt có vẻ sợ hãi.
Ông Dần nói: - Bỏ cái phản xuống đất.
Người bịnh điên buông nhẹ cái phản xuống đất.
Ông Dần đưa tay ngoắt và nói: - Lại đây.
Người bịnh điên vẫn đứng yên và ngó qua phía khác như có ý muốn chạy.
Ông Dần nói: - Sao không lại đây, còn muốn chạy trở lại hả? Chư Thần trói nó lại dùm tôi.
Người điên tự tréo tay qua như người bị trói.
Ông Dần: - Chư Thần lôi nó lại đây cho tôi.
Người bịnh điên tự đi ngay lại chỗ ông Dần.
Ông Dần nói: - Ông Đầu Tộc vô Thánh Thất biểu Lễ vụ sắp đặt nhang đèn đặng tôi giải bịnh cho người nầy, rồi day lại ngó ngay người bịnh điên nói: - Chư Thần dắt nó theo tôi vô Thánh Thất.
Khi vô đến Thánh Thất, ông Đầu Họ Dần lấy áo mão Lễ Sanh mặc vào, lấy 9 cây nhang bó lại đốt cháy rồi đến trước Thiên Bàn làm lễ và thỉnh pháp xong, day lại người bịnh biểu quì xuống. Khi ông Đầu Họ vừa họa phù xong là người bịnh té nằm dài bất tỉnh, không cựa quậy chi hết, những người hiện diện tại đây kinh sợ nói, rủi nó chết luôn thì bị ở tù cả đám.
Ông Đầu Họ nói: - Không sao đâu, tôi truyền Thần thì nó tỉnh lại.
Qua một lúc, ông Đầu Họ liền đến truyền Thần cho người bịnh. Người bịnh lần lần tỉnh lại và ngồi dậy ngó dớn dát có vẻ hoảng hốt.
Ông Đầu Họ hỏi: - Ai nhập vào xác đây?
Người bịnh đáp: - Tôi là . . . . . . (quên tên)
Ông Đầu Họ: - Tại sao thời kỳ Đức Chí Tôn ân xá khai Đạo để độ các bậc chơn hồn tu hành lập công bồi đức hầu được siêu thoát mà ngươi không lo tu hành lại đi phá thiên hạ vậy?
Người bịnh: - Tôi cũng muốn tu mà không sao tu được.
Ông Đầu Họ: - Bây giờ ngươi chịu nhập môn vào Đạo làm môn đệ Đức Chí Tôn không?
Người bịnh tỏ vẻ hân hoan nói: - Nếu ông cho tôi nhập môn, tôi đội ơn lắm.
Ông Đầu Họ Phước Thiện liền kêu ông Đầu Tộc Đạo, biểu mượn người đi kêu ông Chánh Trị Sự đến đặng cho người nầy nhập môn. Cũng may là ông Chánh Trị Sự ở gần đây nên đến liền và cho vị nầy nhập môn. Khi biên Sớ Cầu Đạo xong rồi liền đọc cho nghe.
Ông Đầu Họ nói: - Tôi có ý kiến là ông Chánh Trị Sự nên cử vị Đạo hữu mới nầy làm chức Tuần đạo để có phận sự lập công với Đạo.
Ông Chánh Trị Sự và ông Đầu Tộc Đạo đồng ý nên viết tờ cử liền, ký tên đóng dấu xong, liền đọc cho ông đạo mới nghe và hỏi Đạo hữu bằng lòng không?
Vị nầy tỏ vẻ rất mừng và cám ơn các ông nầy, đồng thời xin phép kiếu lui. Từ nay, người nầy hết bịnh luôn.
■ Luôn dịp kể tiếp một việc huyền diệu nữa, là vụ xảy ra tại Chợ Lách Vĩnh Long.
Nguyên ông Đầu Họ Phước Thiện đầu tiên tại Vĩnh Long là ông Lễ Sanh - Giáo Thiện Trần Văn Lợi, năm Bính Tý (1936) được một số anh em hiến thân vào Phước Thiện nhưng không có cây để tạo nhà sở Phước Thiện. Có người hướng dẫn đến ông chủ điền để xin cây vườn của ông.
Ông chủ điền nói: - Cây trong vườn của tôi hết cây lớn, hiện còn một cây rất to và suông tốt lắm ở dựa mé sông, nếu ông đốn được thì tôi cho.
Ông Đầu Họ Phước Thiện Vĩnh Long: - Nếu ông chủ điền vui lòng cho thì tôi đốn được.
Ông chủ điền bằng lòng và dắt ông Đầu Họ ra chỉ cây. Người Đạo sở cùng đi với ông Đầu Họ thừa dịp ông chủ điền đi cách xa liền nói nhỏ với ông Đầu Họ rằng: Cây nầy có ông bà khuất mặt ở đây linh lắm, không ai dám đến đây chặt cây quơ củi chi hết, nếu ai động đến cây thì bị nhức đầu, đau bụng hoặc ói mửa hay nóng sảng chẳng hạn, phải cúng gà, vịt, có người phải cúng tới heo quay mới mạnh.
Ông Đầu Họ nói: - Mình làm nhà sở Phước Thiện tức là của Đạo chớ phải làm nhà riêng cho mình đâu mà sợ. Hễ ông chủ điền cho thì tôi đốn được, chớ không sao đâu mà sợ.
Đồng thời ông Đầu Họ đến bên cây mà ông chủ điền vừa chỉ cho, đứng thẳng người, ngó ngay vô thân cây và ngọn cây nói rằng:
- Tôi xin thưa cho ông bà, vị nào ở nơi cây đại thọ nầy hay, xin quí ông bà vui lòng dời đến nơi khác ở, vì ông bà kiếm nơi khác rất dễ, còn tôi đang cần tạo nhà sở Lương điền Phước Thiện để cho nhơn sanh có phương lập công bồi đức và cũng để làm ra lúa gạo đem về Tòa Thánh Tây Ninh cho nhơn công tạo tác Tổ Đình dùng, vì Phước Thiện mới phôi thai, không có tiền mua cây, nay nhờ ông chủ điền hứa cho tôi cây nầy để làm nhà sở Phước Thiện và tôi định ngày mai tôi đến đốn cây nầy, xin ông bà ở nơi cây nầy linh thiêng chứng giám chấp thuận cho.
Khấn xong, ông Đầu Họ cho ông chủ điền hay, ngày mai lên đốn cây, và kiếu ra về.
Qua ngày sau, ông Đầu Họ Phước Thiện mượn một chiếc ghe với 4 người đạo sở Phước Thiện, đem theo rìu búa, cưa, đòn gác. Khi đến nơi, ông Đầu Họ vô nhà cho ông chủ điền hay, rồi trở ra tại gốc cây sắp đốn, ngó ngay lên ngọn cây, cũng nói y như hôm qua, rồi bổn thân ông Đầu Họ cầm rìu đốn một hơi, rồi trao lại cho anh em tiếp tục đốn cho đến ngã, rồi dứt ra làm hai, tùy theo việc cần dùng và lăn nó xuống sông, kiềng vô ghe. Khi làm xong thì mặt trời cũng vừa lặn khuất.
Anh em bắt đầu chống ghe ra vừa đến giữa sông, bỗng có một ánh lửa sáng như đèn pin lớn xẹt tới, rồi cứ đảo qua quanh lại vòng theo chiếc ghe đang chở cây, khiến anh em trên ghe hoảng kinh lo ngại nên nói: - Thưa ông Đầu Họ, chắc ông bà không cho mình đi nên giáng hạ theo mình đó.
Ông Đầu Họ nói: - Mấy em cứ việc lo chèo ghe đi, có tôi đây không sao đâu. Nói rồi ông Đầu Họ ngước mặt ngó lên ánh lửa sáng và nói: - Ông bà nào giáng xuống đó, xin nghe tôi nói đây: Tôi là Lễ Sanh Giáo Thiện Trần Văn Lợi vâng lịnh thầy tôi là Đức Hộ Pháp và Hội Thánh ĐĐTKPĐ Tòa Thánh Tây Ninh thuyên bổ tôi xuống đây lãnh trách nhiệm Đầu Họ Phước Thiện tỉnh Vĩnh Long để lo khai mở cơ sở Phước Thiện, nhưng vì mới phôi thai, Đạo quá nghèo, không có tiền mua cây cất nhà sở nên phải xin cây nầy của ông chủ điền đem về dùng làm nhà sở và tôi cũng đã thưa với ông bà ngày hôm qua rồi, sao ông bà hôm nay lại còn theo hoài như vậy.
Nói rồi hối anh em dưới ghe chèo đi, mặc dầu ánh lửa sáng không còn bay đến trước đầu ghe và cặp sát hai bên ghe, nhưng vẫn bay theo ghe. Ánh lửa sáng không lúc nào dứt, có lúc lại sáng rực lên như đèn, rọi sáng cả hai bên mé sông, làm những người có nhà dọc theo bờ sông cả thảy đều kinh ngạc, sợ không biết là ứng hiệu gì? Những hiện tượng ánh sáng nầy vẫn theo ghe mãi như vậy đến lối hai ngàn thước mới thôi.
Cách lối một tuần lễ sau ngày đốn cây nọ, có người ở gần nhà ông chủ điền đến cho ông Đầu Họ hay là từ ngày ông đốn cây đó đến nay, những người đến đó chặt mót nhánh đem về làm củi bị ông bà quở đều bịnh hết, đã nguyện vái lạy xin hết sức mà cũng không hết, nên nhờ ông Đầu Họ có phương chi giúp dùm kẻo họ chết vì bị hành dữ lắm.
Ông Đầu Họ nói: - Ngày mai tôi lên.
Liền ngày sau, ông Đầu Họ cùng đi với mấy vị đạo sở đến tận nhà ông chủ điền cho cây hôm trước và nhờ ông chủ điền cho người nhà của mấy người bịnh hay dùm, nói với họ đến đây, như người nào bịnh nhiều đi không được thì người thân trong nhà đi thế. Khi tụ đến đầy đủ, ông Đầu Họ nói:
- Tại anh chị em lấy củi mà không xin, và tôi cũng chưa hứa cho nên ông bà mới quở. Vậy hãy đem hết số củi đã lấy lại đây, rồi tôi giúp cho là yên chớ không sao đâu.
Khi anh chị em đã đem đủ số củi lấy nơi đây hôm nọ, của ai nấy để riêng đó. Ông Đầu Họ bước ra sân, ngó ngay về phía cội cây đốn hôm trước nói rằng:
- Thưa ông bà ở chỗ cây đại thọ, vừa rồi ông chủ điền đã cho tôi trọn cây nầy, và ông bà đã cho tôi đem về làm nhà sở Phước Thiện, còn cái tàng cây luôn cả nhánh lớn nhỏ, xin ông bà cũng cho luôn anh em lối xóm đây đem về nấu cơm ăn chớ ông bà để lại cũng không dùng vào việc chi được.
Tiếp theo mỗi người có phần củi bước đến hỏi xin và ông Đầu Họ đồng ý cho. Thế là những người bịnh vì lấy củi nơi đây đều hết bịnh.
Nhờ những huyền diệu các Đấng thiêng liêng ban cho hộ trì nên bổn đạo hiến thân vào Phước Thiện tấp nập và đồng thời các tỉnh khác trong miền Nam VN cũng tương tợ như vậy, nghĩa là nhờ huyền diệu việc Giải Oan, giải bịnh của các ông Đầu Họ Phước Thiện mà người hiến thân vào Phước Thiện như lượng sóng tràn bờ.
Cũng trong năm Bính Tý (1936), có lịnh của Ngài Khai Pháp Chưởng quản Phước Thiện dạy các vị Đầu Họ Phước Thiện chọn người đã hiến thân trọn đời vào Phước Thiện, đưa về Tòa Thánh đặng nhập vào công thợ tạo tác Tổ Đình liền nội trong năm nầy, số người Phước Thiện nhập vào công thợ tạo tác Tổ Đình lối 400 người kể cả nam nữ.
Đức thầy dạy nếu ai bằng lòng hy sinh làm Tổ Đình thì phải minh thệ thủ trinh trong thời gian tạo tác Tòa Thánh, khi làm xong mới lập gia đình, dầu nam hay nữ cũng phải như vậy.
Ngày mùng 1 tháng 11 năm Bính Tý (dl 14-12-1936) khởi công tạo tác Tòa Thánh.
Các Họ Đạo Phước Thiện trong miền Nam VN đều tổ chức sở Lương điền để sản xuất lương thực cần dùng nơi cơ sở và giúp đỡ cho những người bịnh tật, khốn khổ tai nàn và dành ra một phần đặc biệt đem về Tòa Thánh cho công thợ tạo tác Tổ Đình dùng hằng ngày nơi Trai Đường, kể cả thợ hồ, thợ mộc, thợ cưa, thợ sắt, thợ đắp vẽ, sở lò gạch, sở đào đá, v.v....
Về ngân quỹ tạo tác do Hộ Viện là ông Giáo Sư Thượng Chất Thanh giữ, Chức sắc các địa phương dầu Hành Chánh hay Phước Thiện cũng đăng tiền nơi Hộ Viện nầy. Nhưng các Đầu Họ Phước Thiện, sau khi Ngài Khai Pháp Chưởng quản Phước Thiện, duyệt chứng xong mới đem qua đăng cho Hộ Viện.
Còn về lương thực thì dầu Hành Chánh hay Phước Thiện đều đăng cho Thủ Bổn Phạm môn và Phước Thiện do ông Lễ Sanh Giáo Thiện Nguyễn Văn Gia đảm trách.... ... ....
(Yêu cầu xem tiếp Lược sử Phạm môn về phần Phước Thiện nơi chữ: Phước Thiện, vần P nầy)
Đại Hội Phạm môn ngày 28-11-Nhâm Tý (dl 2-1-1973) tại Hậu Điện Báo Ân Từ:
| Chủ Tọa: |
Ngài Hiến Đạo HTĐ kiêm Thống Quản
Cơ Quan Phước Thiện và Tịnh Thất. |
Mục đích: Chọn cử:
-
Trưởng Tộc Phạm môn.
-
Phó Trưởng Tộc Phạm môn.
-
Chưởng Gia.
-
Chưởng Thổ.
-
Chưởng Điền.
Chơn Nhơn Đỗ Văn Viện, Hội Trưởng Ban Kỳ Lão Phạm môn trình bày:
- Danh sách quí vị Phạm môn được hồng thệ kỳ nhứt hiện tại còn được 22 vị, và 10 vị được chọn ra ứng cử. Trong 10 vị nầy lại có 4 vị rút ra hoặc vắng mặt, chỉ còn lại 6 vị tham dự cuộc bắt thăm chọn cử trước Đức Phật Mẫu. Sự chọn cử nầy là do Đức Phật Mẫu quyết định. Đây là tiền lệ mà trước kia Đức Hộ Pháp đã thực thi.
Toàn thể quí Chức sắc đến dự và tất cả các đệ tử Phạm môn đều cầu nguyện Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng.
Cuộc rút thăm bắt đầu. Kết quả:
-
Chơn Nhơn Đỗ Văn Viện, Trưởng Tộc Phạm môn.
-
Chơn Nhơn Lâm Văn Đứa, Phó Trưởng Tộc Ph. môn.
-
Ông Huỳnh Văn Ngữ, Chưởng Gia Phạm môn.
-
Ông Lê Văn Gấm, Chưởng Thổ.
-
Ông Trà Văn Phiên, Chưởng Điền.
Sau đó, Đại Hội bế mạc.
■ Sáu vị Đạo hữu công quả Phạm môn ở tù tại khám đường Tây Ninh, do vụ bảo vệ Tòa Thánh không cho Chi Phái dùng bạo lực vào chiếm Tòa Thánh, được chánh quyền tỉnh trả tự do, trở về Tòa Thánh, vào trình diện Đức Phạm Hộ Pháp.
Tối hôm đó, Đức Hộ Pháp phò loan với Ngài Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh tại Giáo Tông Đường, ông Thần Võ Văn Thoàn giáng cơ nói chuyện với Đức Hộ Pháp và an ủi 6 bạn vừa mãn tù về.
Xin chép bài giáng cơ ấy sau đây:
| Phò loan: |
|
| |
Hộ Pháp - Tiếp Thế. |
Giáo Tông Đường, ngày 14-3-1934 (âl 29-1-Giáp Tuất). |
(6 vị Đạo hữu Phạm môn ở tù mới về vào hầu)
HƯƠNG BẢO THOÀN
Con chào mấy Đại Sư . . . . Lụy . . . .
Mấy hôm nay, con biết đặng nhiều việc Thiên thơ tiền định làm nên danh thể Phạm môn.
Em chào mấy anh. Em cam thất lễ. Em có đến tại ngục đường thăm viếng mấy anh nhiều phen. Đau lòng quá đỗi, song Em xin mấy anh nhớ rằng, Nhan Hồi chết tại ngục thất mới đắc Thánh vị, Chúa Jésus chết treo nơi thập tự mới lập Đạo Trời.
Cõi thế vẫn khác cõi Thiên, đời chê mới nên về Đạo. Em xin mấy anh tự hỏi lấy mình rằng, chịu khổ hạnh cùng Đức Chí Tôn thì phước hay là tội?
Em cũng tiếc cho Em khi còn xác phàm, Em không hữu hạnh làm Đạo gặp may duyên như mấy anh vậy. Chớ chi Em đặng hồng ân như mấy anh ngày nay thì chắc Em còn phẩm cao hơn phẩm Thần vị nầy. Thật là khối ngọc của mấy anh chưa dùng, còn Em thì thèm quá đỗi.
Xin đọc lại cho mấy anh em nghe, rồi con sẽ tiếp. Kiếu lỗi cùng Đức Quyền Giáo Tông. Cười....
Sư phụ hằng nhắc mà cười rằng, Em làm Đạo ít oi hơn hết, chớ chi đặng bằng Anh Ba (Phạm Văn Màng) thì ngày nay đâu có ngồi dưới thấp thỏi, ngó cao sang Thánh vị của người mà phải thẹn hơn.
Hôm mấy anh mới bị nạn thì Đức Trần Văn Xương đến địa giới Linh Thần, cầm nơi tay một tờ ý chỉ nói cùng các Trấn Tôn Thần rằng có Thánh Lịnh dạy phải chăm nom gìn giữ mấy anh cho toàn tánh mạng.
Em coi lại là lịnh của Anh Ba, thẹn thuồng quá đỗi, vì các Trấn biết Em là bạn của người, mà ngày nay tớ thầy khác bậc. Xin đọc lại....
May rủi một kiếp sanh mà muôn năm không thể đổi là vậy.
Thưa cùng Sư phụ,
Anh Ba dặn con nói lại dùm rằng: Người đương lo cùng Tam Trấn đặng kiện với Ngọc Hư, đuổi những kẻ tà tâm ra khỏi Đạo. Xin Sư phụ ẩn nhẫn, muôn sự có Chí Tôn, xin đừng sầu muộn nữa, hao mòn thân thể.
Anh Ba thấy Sư phụ rầu thì người khóc lóc cùng con nhiều lúc.
Sư phụ nói lại với Chị Ba rằng anh gởi lời thăm. Thăng.
(Trích trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Quyển I)
Hương Bảo Thoàn: ông Võ Văn Thoàn làm công quả nơi Phạm môn, được lập Hồng thệ (Đào viên pháp) lần thứ nhứt nơi Sở Trường Hòa ngày mùng 3-1-NhâmThân (1932) cùng một lượt với ông Phạm Văn Màng. Ông Màng và ông Thoàn là hai anh em bạn rể, quê quán tại xã Thanh Phước, quận Trảng Bàng. Khi qui liễu, ông Thoàn đắc Thần vị vì công quả ít; ông Màng đắc Thánh vị (Phối Thánh) vì công quả nhiều hơn.
TNHT: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
HTÐ: Hiệp Thiên Ðài.
CTÐ: Cửu Trùng Ðài.
CQPT: Cơ Quan Phước Thiện.
ÐÐTKPÐ: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Xem tiếp: Phạm nghiệp