Kệ chuông:
Kệ: Những bài thi ngắn hay dài: hoặc để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một bài kinh, hoặc để răn dạy đệ tử, hoặc để cầu nguyện. Chuông: cái chuông lớn (Hồng chung) treo nơi lầu chuông của Thánh Thất hay nơi Điện Thờ.
Kệ chuông là bài kệ để ngâm lớn lên, khi ngâm được một câu thì dộng một tiếng chuông lớn.
Trước khi cúng đàn và sau khi cúng đàn hay cúng tứ thời tại Thánh Thất, Điện Thờ đều có Kệ chuông.
Sau đây chúng ta giải thích ý nghĩa các bài kệ chuông:
Khi Lễ sĩ xướng Bạch Ngọc Chung minh thì người hầu chuông trên Bạch Ngọc Chung Đài (Lầu chuông) khởi sự dộng 3 tiếng chuông, rồi ngâm bài kệ 4 câu, dứt mỗi câu thì dôïng một tiếng chuông lớn.
Bài kệ chuông cúng Đại đàn hay Tiểu đàn:
| |
1. Thần chung thinh hướng phóng Phong Đô,
2. Địa Tạng khai môn phóng xá cô.
3. Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
4. Sám hối âm hồn xuất u đồ. |
| Viết ra Hán văn: |
| |
神鍾聲向放酆都
地藏開門放赦辜
三期運轉金光現
懺悔陰魂出幽途 |
| Giải nghĩa: |
| |
C.1: Tiếng chuông thiêng liêng phát ra hướng đến cõi Phong Đô. (Thần: thiêng liêng. Thinh: tiếng. Phóng: phát ra) C.2: Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát mở cửa phóng thích các tội hồn. (Xá: tha tội. Cô: tội lỗi).
C.3: ĐĐTKPĐ vận chuyển làm hiện ra một lằn ánh sáng vàng (tạo thành một chiếc cầu bắc đến cõi Phong Đô).
C.4: Các chơn hồn ở Phong Đô sám hối tội tình thì đi ra khỏi nơi tối tăm ấy bằng con đường là lằn kim quang nói trên. (Âm hồn: chơn hồn nơi cõi Âm. U: tối tăm. Đồ: con đường). |
KHẢO DỊ:
Trong Quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh của hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt in năm 1928, nơi trang 42, bài Kệ trên gọi là: Chung Xướng, chép ra như sau:
Chung thinh khấu hướng triệt Phong Đô,
Địa Tạng khai ân phóng xá cô.
Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
Sám hối âm hồn xuất u đồ.
(Khấu: cúi đầu. Triệt: thấu tới. Ân: ơn).
Trước khi vào cúng Tứ thời nơi Thánh Thất hay Điện Thờ, thì kệ chuông hai lần. Khi nghe dứt 3 tiếng chuông kệ lần nhứt thì lo mặc Đạo phục chỉnh tề, đi vào đại điện đứng theo vị trí của mỗi người, chờ kệ chuông nhì.
Khi nghe 3 tiếng chuông kệ lần thứ nhì thì xá đàn, bước vào đại điện, bắt đầu thời cúng.
| |
1. Văn chung khấu hướng huệ trưởng Càn Khôn,
2. Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
3. Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha. |
| Viết ra Hán văn: |
| |
聞鍾叩向慧長乾坤
法界眾生同登彼岸
(Câu mật chú bằng tiếng Phạn phiên âm ra) |
| Giải nghĩa: |
| |
Câu 1. Nghe tiếng chuông, cúi mình xuống hướng về cái trí huệ lớn của Trời Đất. (Văn: nghe. Khấu: cúi xuống. Trí: trí huệ. Trưởng: lớn). Câu 2: Nhơn sanh nơi các cõi trần cùng lên bờ giải thoát. (Pháp giới: các cõi trần. Chúng sanh: chỉ nhơn sanh. Bỉ ngạn: bờ bên kia. Bên nây là Bến mê, bờ bên kia là giác ngộ, từ đây đi vào cõi TLHS, giải thoát khỏi luân hồi).
Câu 3: Câu mật chú bằng tiếng Phạn phiên âm ra, có ý nghĩa là: Cầu nguyện cho chúng sanh tiêu tai tăng phước, thành tựu Phật đạo, cầu chư Phật chứng minh. |
KHẢO DỊ:
Theo Tờ Phúc trình của Chí Thiện Huỳnh Văn Phuông gởi lên Đức Phạm Hộ Pháp 3 Bài Kệ chuông thì Câu 1 là: Văn chung khấu hướng huệ chưởng Càn Khôn. (Chưởng là nắm giữ.)
| |
1. Nhứt vi u ám tất giai văn,
2. Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác.
3. Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha. |
| Viết ra Hán văn: |
| |
一圍幽暗必皆聞
一切眾生成正覺 |
| Giải nghĩa: |
| |
Câu 1: Nhứt vi u ám tất giai văn: Tất cả trong phạm vi cõi Phong Đô ắt hẳn đều nghe biết. (Nhứt: tất cả. Vi: chu vi. U ám: tối tăm, chỉ cõi Phong Đô. Tất: ắt hẳn. Giai: đều. Văn: nghe.) Câu 2: Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác: Tất cả nhơn sanh đều thành Phật. (Nhứt thiết: tất cả. Chúng sanh: chỉ nhơn sanh. Chánh giác: bậc giác ngộ chơn chánh, đó là Phật).
Câu 3: Mật chú, ý nghĩa giống như đã giải ở trên. |
KHẢO DỊ:
Trong Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, trang 616 có bài kệ Nguyện Chung, xin chép ra sau đây:
"Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tất giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác.
Nghĩa là:
Nguyện cho tiếng chuông nầy vượt qua toàn cõi pháp giới,
Cho đến nơi u ám là cõi Địa ngục sắt cũng được nghe,
Nghe được thì thanh tịnh, chứng được cảnh trí viên thông,
Tất cả chúng sanh đều thành Phật."
(Thiết: sắt. Vi: vây quanh. Thiết Vi là núi Thiết Vi tức là Thiết Vi sơn, núi có tường sắt vây quanh, trong đó có nhiều cõi Địa ngục, giam cầm và trừng phạt các tội hồn. Nhứt thiết: tất cả). Có gì lầm lộn không khi chúng ta viết Nhứt vi mà bên Phật giáo viết là Thiết vi?
Sau khi cúng xong, chờ kệ 3 câu nầy rồi mới bãi đàn.
Trước khi kệ, dộng 3 tiếng chuông, rồi bắt đầu kệ, dứt một câu kệ thì dôïng một tiếng chuông, 3 câu kệ dộng 3 tiếng chuông. Dứt kệ chuông thì xá đàn một xá rồi bãi đàn, mọi người đi ra khỏi đàn cúng.
| 1. |
Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên,
vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận. |
| 2. |
Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an,
hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới. |
| 3. |
Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha. |
| Viết ra Hán văn: |
| |
壇場圓滿, 職色歸源,
永沐慈恩, 風調雨順,
天封海眾, 國泰民安,
回向壇場, 盡收法界。 |
| Giải nghĩa: |
| |
Câu 1: Đàn cúng tế đã đầy đủ trọn vẹn, Chức sắc trở lại chỗ cũ, gội nhuần lâu dài ơn huệ của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, được mưa thuận gió hòa. (Đàn tràng tức là Đàn trường: chỉ đàn cúng tế. Qui nguyên: trở về chỗ khởi đầu. Vĩnh: lâu dài. Mộc: gội, gội nhuần. Từ: Từ bi, chỉ Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu.)
Câu 2: Trời ban cho dân chúng, nước thạnh dân yên, hồi hướng công đức nơi đàn cúng, thâu hết các cõi của pháp.
(Hải chúng: biển người, chỉ dân chúng. Hồi hướng: ý nói hồi hướng công đức, chuyển công đức nầy hướng về một chỗ nào đã định. Tận: hết. Thâu: thu vào. Tận thâu: thu hết vào. Pháp giới: có rất nhiều nghĩa, nên xem chữ nầy trong vần P).
Câu 3: Câu mật chú bằng tiếng Phạn phiên âm ra, xem ý nghĩa đã giải ở trên. |
ÐÐTKPÐ: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Xem tiếp: Kệ sám